Đặc tính của hổ phách

Tác giả:  Gabriela Gierłowska

Là tác giả của nhiều ấn phẩm về hổ phách, là chuyên gia về hổ phách, là người đã làm trong lĩnh vực liên quan đến hổ phách hơn 30 năm, hiện giờ đang quan tâm tới vấn đề hổ phách Baltic giả.

Hổ phách Baltic (succinite) là một loại nhựa cây hóa thạch trong điều kiện tự nhiên từ 45 triệu năm trước. Mặc dù đã trải qua rất nhiều quá trình để nhựa cây biến thành hổ phách, nó vẫn còn ở trong tiến trình hóa thạch, tức là hổ phách vẫn tiếp tục bị ô xi hóa và polime hóa. Chính vì hổ phách tiếp tục biến đổi nên chúng ta có thể coi nó là một loại đá “sống”, một loại đá thân thiện với con người.

Tổ tiên chúng ta đã quan tâm và sử dụng hổ phách từ thế kỷ thứ 13 trước công nguyên. Những hình vẽ đơn sơ trên hổ phách phác họa những kẻ đi săn và những con ngựa hoang xuất hiện từ thời gian đó. Người ta tìm thấy những tác phẩm này ở Meidorf (Đức) và Siedlnica (Ba Lan).

Loại đá đặc biệt này đã khiến con người ngạc nhiên qua hàng ngàn năm và đã được dùng để chế tác đồ thủ công mỹ nghệ, cũng như được cho là loại đá có tính chất chữa bệnh và có khả năng kỳ diệu. Ngày nay, ở Ba Lan, hổ phách được dùng để làm tăng vẻ đẹp của trang sức bạc. Trang sức bạc của Ba Lan được xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới.

* Hổ phách rất nhẹ, tương đương với nước biển, khối lượng riêng của nó nằm trong khoảng 960 tới 1096g/m3. Đây là một đặc tính rất có ích vì điều đó có nghĩa là những đồ trang sức lớn làm bằng hổ phách như vòng cổ, mặt vòng và khuyên tai có thể được chế tác dễ dàng và khi đeo lên người cũng rất thoải mái.

* Hổ phách là loại nhựa cây hóa thạch duy nhất có chứa từ 3% đến 8% axit hổ phách, một loại hóa chất có khả năng chữa nhiều bệnh. Phần lớn axit hổ phách nằm ở lớp ngoài của hổ phách.

* Hổ phách nổi trong nước mặn và thường chìm trong nước ngọt. Thời xưa, khi các cơn sóng đánh hổ phách lên bờ Biển Baltic và Biển Bắc, chúng luôn làm cho con người liên tưởng tới những sức mạnh siêu nhiên ẩn chứa bên trong. Ngày nay điều này vẫn còn tiếp diễn: khi thời tiết mát mẻ (tháng 3, tháng 11) và nhiệt độ nước biển khoảng 4oC, là lúc khối lượng riêng của nước nặng nhất thì những chuyển động trong lòng biển làm cho hổ phách nổi lên từ đáy biển và những con sóng đưa chúng lên bờ cát.

Hổ phách được tìm thấy ở các mỏ tại khu vực Vịnh Gdansk (Ba Lan), tại Bán đảo Sambian (Nga), tại bán đảo Hel Peninsula của Ba Lan (đây là những khu mỏ giàu hổ phách nhất trên thế giới), cũng như tại Lublin thuộc Lubartow, Ba Lan, tại Polesie thuộc vùng Volyhn (hổ phách Ukraine) và tại Bitterfeld thuộc Đức (hổ phách Saxon). Mỏ hổ phách thường nằm ở độ sâu từ vài mét đến 150 mét so với mặt đất.

 * Hổ phách thô có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau vì nó là kết quả của các quá trình hình thành và tồn tại khác nhau trong một khoảng thời gian rất dài. (Xem: The Origin of Baltic Amber),

*Hổ phách rất đa dạng về màu sắc: từ trắng (là màu được coi là có giá trị nhất hàng thế kỷ trước đây) cho đến các sắc vàng và nâu ở các cấp độ khác nhau cho tới màu đỏ đặc trưng. Hổ phách còn có màu xanh lam, xanh lá cây và kể cả màu đen nữa.

* Hổ phách thường có chứa các dị vật hữu cơ như côn trùng, lá cây, mùn cây, hạt, cát, bọt khí. Hổ phách chính là nguồn cung cấp thông tin về thời kỳ cổ xưa khi hổ phách được hình thành, về những sinh vật đã từng sống gần những cây có nhựa tạo thành hổ phách vào thời kỳ đó. “Con thằn lằn của Gierlowska” hiện nằm trong bộ sưu tập của bảo tàng hổ phách tại Gdansk chính là một ví dụ về một sinh vật được hổ phách Baltic lưu giữ.

* Thường thì giá trị của hổ phách phụ thuộc vào kích thước của miếng hổ phách nhưng yếu tố quyết định lại là một nguyên tắc đã tồn tại hàng thế kỷ qua đối với những người chế tác đồ trang sức hổ phách, đó là: “những viên hổ phách tuy nặng bằng nhau nhưng giá của chúng có thể khác nhau phụ thuộc vào độ tinh kiết, độ trong suốt, sự quý hiếm và màu sắc của từng viên” (J. Grabowska).

* Hổ phách cho chúng ta cảm giác ấm áp hơn so với các loại đá khác khi chạm tay vào. Khi được cọ sát thì hổ phách sẽ tích điện và do đó hút được các mẩu giấy nhỏ hoặc những lá cỏ khô. Hổ phách tích điện âm và chính điều đó khiến nó trở nên có ích đối với sức khỏe con người.

* Hổ phách có khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt thấp và đẳng hướng.

* Những miếng hổ phách nhỏ khi được đốt cháy thì cho ngọn lửa màu vàng sáng và tỏa ra hương thơm của nhựa cây. Pliny viết: “Những miếng hổ phách, ngâm trong dầu, khi cháy tạo ra ngọn lửa sáng hơn và lâu hơn so với lõi của cây lanh”.

* Hổ phách có thành phần hóa học rất phong phú.

Nó bao gồm:

C(carbon) – từ 61 đến 81%

H (hydrogen) – từ 8.5 đến 11%

O (oxygen) – khoảng 15%

S (sulphur) – khoảng 0.5%;

Hổ phách cũng chứa các nguyên tố vi lượng và chất khoáng.

*Khi vỡ, cấu trúc của hổ phách ở chỗ vỡ có dạng các hình tròn đồng tâm.

*Hổ phách là vật liệu dễ chế tác: có thể mài, cắt, điêu khắc, chạm khắc.

*Khi đun trong dầu thực vật (dầu hạnh nhân hoặc dầu hạt cải) thì hổ phách sẽ trở nên mềm và dễ uốn.

*Khi bị nung nóng thật nhanh thì hổ phách sẽ vỡ. Hổ phách trở nên mềm ở  khoảng 150°C và nóng chảy ở  300°C .

* Hổ phách có thể được nhuộm bằng các chất màu tự nhiên cũng như bằng các chất màu tổng hợp.

* Hổ phách tự nhiên là hổ phách chưa qua các công đoạn xử lý trừ việc bị mài đi lớp bên ngoài và đánh bóng lên. Hổ phách tự nhiên là một vật sống bởi vì các quá trình chuyển hóa bên trong lòng nó vẫn tiếp diễn và nó mang lại lợi ích (về sức khỏe) cho con người.

Cá nhân tôi tin rằng loại đá này mang lại may mắn cho con người. Nó hỗ trợ và làm tăng năng lượng tích cực trong cơ thể. Hổ phách làm ổn định lại trường tĩnh điện tự nhiên trong cơ thể con người. Trường tĩnh điện này thường bị xáo trộn bởi máy tính và điện thoại di động.

Hổ phách thật kỳ diệu và bí ẩn. Và nó cũng rất đẹp và khiến ta say mê khám phá và thưởng thức những bí mật của nó.